Showing posts with label món ăn dân dã. Show all posts
Showing posts with label món ăn dân dã. Show all posts

Khô Cá Lóc Miền Tây

Giữa tháng 10 âm lịch, là thời điểm nhộn nhịp nhất của nghề làm khô ở thị trấn Chợ Mới-An Giang. Trước đây, chỉ có một vài hộ làm khô cá lóc bán lẻ ngay tại chợ, thì nay món đặc sản này có mặt ở khắp nơi, kể cả trong siêu thị. Nghề làm khô cá lóc bây giờ có gần chục cơ sở lớn, nhỏ giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động ở địa phương. Những cơ sở này được tập hợp lại thành tổ hợp tác để cùng xây dựng thương hiệu khô cá lóc Chợ Mới. Gần tết là thời điểm nhộn nhịp nhất của làng nghề để cung cấp hàng phục vụ cho thị trường.
Cơ sở khô cá lóc Sáu Tâm rất nổi tiếng ở vùng đất Chợ Mới, nhưng từ lâu, sản phẩm làm ra chỉ được bày bán trong chợ và những mối quen. Năm 2002, khi tham gia Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, được người tiêu dùng ủng hộ nên cơ sở đã làm bao bì và có thương hiệu.
Bà Nguyễn Thị Anh, chủ cơ sở khô cá lóc Sáu Tâm, cho biết: “Vùng đất Chợ Mới từ xưa đến nay con cá lóc rất nhiều, đặc biệt là trong mùa nước nổi. Những lúc dội chợ, cá tươi ăn không hết nên nông dân xẻ khô trữ lại. Từ đó, nghề làm khô cá lóc cũng ra đời. Nghề gia truyền này của gia đình tui tồn tại mấy chục năm và trải qua 2 thế hệ. Tuy nhiên, thời gian gần đây, mới phát triển lên cơ sở và sản phẩm làm ra nhiều hơn trước”.
Ở cơ sở Sáu Tâm bây giờ không chỉ có sản phẩm khô cá lóc mà còn có thêm khô cá chạch và cá lóc chà bông để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Tết năm rồi, cơ sở này làm ra khoảng 700kg khô cá lóc thành phẩm để bán ra thị trường các tỉnh ở khu vực ĐBSCL. Sản phẩm khô cá lóc ở đây có hương vị đặc trưng rất riêng nhờ vào bàn tay khéo léo của người phụ nữ.
Bà Nguyễn Thị Anh cho biết thêm: “Để có miếng khô ngon, phải qua rất nhiều công đoạn như: làm sạch, loại bỏ xương, ướp gia vị và đem phơi nắng. Trong đó, ướp gia vị rất quan trọng để tạo ra hương vị riêng của từng cơ sở và đây cũng là bí quyết gia truyền…”. Hầu hết những sản phẩm khô cá lóc ở Chợ Mới đều được làm thủ công và phơi dưới ánh nắng mặt trời.

Mắm Còng Lột Gò Công

Những ngày mưa dầm trời se lạnh, có đĩa mắm còng lột chính hiệu Gò Công và chai rượu thuốc nhâm nhi cùng bạn bè thì không còn gì bằng.
Bữa tiệc mắm còng lột cũng chẳng quá cầu kỳ. Đĩa mắm còng lột trắng muốt, bên trên rắc những sợi ớt đỏ tươi, xung quanh xếp mấy miếng khóm chín rim đường vàng ươm, phía dưới lót dưa leo xắt khoanh cùng cải xà lách xanh non mát mắt.
Quanh đĩa mắm là bún, thịt ba rọi, lòng heo luộc, xoài sống để nguyên vỏ xắt miếng, rau thơm các loại và có hẳn một đĩa còng chưa lột rang me. Nhập tiệc, gắp một con còng lột kèm với khóm, dưa, rau, bún, thịt luộc đưa vào miệng, vị ngọt, chua cay thấm vào chân răng, lan khắp các gai vị giác của lưỡi.
Cùng với mắm tôm chà, mắm còng lột là đặc sản danh bất hư truyền do ông bà ngày xưa để lại cho con cháu xứ biển nghèo khó. Nhưng, mắm tôm chà có thể làm quanh năm vì tôm bạc đất nhiều vô kể, muốn thưởng thức lúc nào cũng được. Còn mắm còng lột, mỗi năm chỉ có một mùa, kéo dài hai, ba tháng là hết.
Hàng năm, đúng vào ngày tết Đoan ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch, ở cù lao Phú Đông nằm giữa sông Cửa Tiểu, Cửa Đại, không biết từ đâu còng kéo nhau về từng bầy, nằm lớp lớp ở các ao nước cạn để lột vỏ. Người ta nói đó là “ngày hội còng lột”.
Vào “ngày hội còng lột”, dân cù lao Phú Đông hoặc thị trấn Tăng Hòa, thị xã Gò Công và nhiều địa phương khác đều đổ xô mang ghe đến bắt còng về làm mắm.
Khi bắt Con còng lột mang về rửa sạch, moi bỏ yếm và ruột, để cho ráo nước rồi xếp vào hũ sành.
Sau đó đâm tỏi, ớt lấy nước, trộn với nước mắm nhĩ nấu sôi, để thật nguội mới châm vô những hũ còng lột trắng phau, rồi xếp vào chỗ mát. Mười lăm ngày sau con còng lột chín đều thành mắm. Nhưng không giống các loại mắm khác, mắm còng lột chỉ có thể  giữ được tối đa 3 tháng, nên sau tháng 7 âm lịch, xứ Gò Công cũng hết mắm còng, muốn ăn phải chờ “ngày hội còng lột” năm sau.
Về sau, hàng năm “ngày hội còng lột” vẫn còn xuất hiện trên cù lao Phú Đông nhưng còng càng ngày càng ít.

Trứng Cá Ngát Nấu Cơm Mẻ

Tháng ba, tháng tư khi gió chướng lao xao đẩy nước mặn vào các cửa sông ở đồng bằng sông Cửu Long thì người sành ăn biết là đã tới mùa cá ngát. Cá ngát da trơn, lưng đen bụng trắng, thường chui rúc dưới hang sâu, vực xoáy, sống được ở cả nước ngọt lẫn nước lợ, nhiều con sống lâu năm lên “lão làng”, nặng năm, bảy ký lô.Những lão ngư ở vùng cửa sông Ba Lai, Hàm Luông (Bến Tre) nói, cá ngát chỉ làm được hai món ngon “dách lầu”, đó là kho tộ và nấu canh chua, mà nếu nấu được nồi canh chua cá ngát với cơm mẻ, bắp chuối chẻ dọc thì mới đúng điệu.
Nhưng giới “đệ tử Lưu Linh” xứ nước mặn thì cho rằng kiếm được cặp trứng cá ngát nấu canh chua cơm mẻ mới đúng là dân sành ăn. Ông Tám Phước, dân cố cựu ở vùng Tiệm Tôm, Ba Tri, nói rất hiếm khi gặp được con cá ngát có trứng. Thường, nếu bắt được con cá có trứng, ngư dân không bao giờ đem bán, bởi con cá mang trứng cái bụng chang bang, thân mình ốm nhom ốm nhách, không bao nhiêu thịt, các bà nội trợ nhìn thấy là ngó lơ đi thẳng, bán chẳng được bao nhiêu tiền.
Theo ông Tám Phước, làm món trứng cá ngát nấu canh chua cơm mẻ không khó, cặp trứng lấy ra rửa sạch, trụng sơ với nước sôi cho chín tái. Nồi nước cơm mẻ đun sôi, nêm nếm vừa ăn, cho thêm một nắm sả, ớt, tỏi bằm nhuyễn, bỏ cặp trứng vào nấu tiếp, nêm thêm rau thơm gồm ngò om, ngò gai, lá quế, ớt xắt khoanh. Khi trứng cá chín dùng muỗng xắn từng miếng, chấm với muối cục đâm ớt hiểm, nhai chậm rãi từng hạt trứng to hơn đầu đũa ăn trong miệng, lắng nghe vị bùi bùi, béo béo của trứng cá hoà quyện với vị chua của cơm mẻ, cay xé của ớt, sả, vị mặn mòi của muối cục, chát ngọt của bắp chuối và mùi thơm của rau gia vị, tợp thêm ngụm rượu đế đưa cay thì…chẳng cao lương mỹ vị nào bằng. Cho nên ngư dân nào may mắn bắt được con cá ngát có trứng thường giữ lại gầy độ nhậu, mời cho bằng được bạn tri kỷ thưởng thức món ngon hiếm có, hoặc mang biếu cho những người họ kính trọng, yêu quý.
Theo sgtt

Khô Rắn Miền Tây

Khô rắn khi nướng thơm ngon khó tả. Xé từng thớ thịt vàng ươm, nhai chầm chậm, nuốt hết chất ngọt, thực khách sẽ thoảng nghe một thứ mùi vị thật lạ lẫm và khoái khẩu.
Mùa nào thức nấy. Ai đến miền tây vào những ngày nước nổi lênh đênh mà không thưởng thức món cá linh-bông súng, đặc sản ếch nướng hoặc các món rắn thì lúc trở về sẽ tiếc nuối dài dài.
Rắn bây giờ khó kiếm lắm, nhất là hổ đất, hổ hành, còn hổ hèo thì lại càng quý hiếm, không phải có tiền là mua được. Ngoại trừ vào mùa nước nổi, các tay lưới chuyên nghiệp đã lùng sục khắp nơi mới thu gom được những con rắn hiền như bông súng, ri voi, ri cá, rắn nước, rắn trun…
Đa số người săn bắt rắn là người Kh’mer, họ mang từ biên giới qua bán cho các chủ vựa Việt Nam, nhiều nhất là tại chợ An Phú, chợ Vĩnh Hội Đông (huyện An Phú, An Giang). Rắn bắt được thường bán cho các nhà hàng, quán ăn và khách du lịch. Do mỗi năm chỉ có một  mùa nước nổi nên nhiều cơ sở đã thu mua rắn để làm khô, dành phục vụ cho khách du lịch.
Muốn làm, trước hết phải lột da rắn, cạo lấy thịt, bỏ xương. Sau đó dùng thịt ướp muối và gia vị, xong ép mỏng và phơi khô. Khô rắn khi nướng trên bếp than hồng sẽ tỏa mùi thơm phức. Lúc thưởng thức, chúng ta có thể xé từng thớ thịt vàng ươm, nhai chầm chậm và từ từ nuốt hết chất ngọt sẽ thoảng nghe một mùi vị đặc biệt và khoái khẩu.
Khô rắn hơi dai nhưng không cứng so với khô cá lóc và cá chạch. Tuy là món ăn bình dị được chế biến từ nguyên liệu thuần Việt nhưng khô rắn vô cùng hấp dẫn nhờ hương vị và bí quyết riêng. Muốn cầu kỳ hơn, thực khách có thể nhấm nháp kèm với dưa leo, xoài sống, cóc non và chấm với tương ớt cay cay, cứ thế mà lai rai hết miếng này tới miếng khác, không chê vào đâu được.
Khô rắn là món ăn chơi hấp dẫn của chị em, và cũng là món nhậu khoái khẩu của cánh mày râu. Do đó, khi đến miền tây tham quan trong mùa này, bạn nhớ đem thêm chai rượu để chuyền tay nhau, nhâm nhi thưởng thức món đặc sản miền sông nước này nhé.
Theo:Thanhnien

Ốc Ruộng Đầu Mùa

Vào mùa nắng, nước trên đồng dần rút cạn phơi mặt đất khô cằn. Theo tập tính, con ốc di chuyển vào chân bờ ruộng để vùi mình trong lòng đất ngủ yên suốt mùa nắng. Tới mùa hè, khi trời sa mưa giông vài trận nặng hạt thì đất mềm ra, nước xâm xấp mặt ruộng. Thời điềm này, họ hàng nhà ốc vặn mình theo chiều xoắn để trồi lên trên. Bắt ốc chỉ cần quan sát lớp đất mặt bị sụp lộ những vết nứt theo vành miệng ốc, lấy mũi dao cạy nhẹ là tóm được ngay. Có người dùng cuốc đào xới lớp đất mặt bắt ốc, vừa cực công vừa dễ làm bể vỏ chết ốc.
Thời kỳ ốc đầu mùa tiềm sinh, đủ chất bổ dưỡng nên thịt đầy, chắc và ngon ngọt. Ngâm ốc vào nước vo gạo vài giờ cho nhả tạp chất rồi chặt bỏ phần trôn, rửa sạch lại. Dùng nồi lớn, lót dưới bằng lá sả, lá ổi hoặc lá me, chanh…,bóp dập sơ rồi xếp ốc lên trên, đổ ít nước. Đậy kín vung, đun sôi cho tới lúc ốc bung mày miệng là chín. Pha nước mắm chanh ớt, chua ngọt cùng nhiều sả băm nhuyễn làm nước chấm. Có nơi dùng cơm mẻ dầm muối ớt làm nước chấm cũng rất ngon. Ốc đầu mùa chưa lên khỏi mặt đất nên toàn bộ thịt vàng tươi, ruột chưa có chỉ đen. Lể ra nguyên con ốc no tròn chấm nước mắm sả ớt cho vào miệng nhai từ từ để cảm nhận đủ đầy hương vị sản vật thiên nhiên đồng nội. Có rất nhiều cách chế biến. Ốc luộc gỡ lấy thịt chà sơ qua muối, dùng nấu canh chua lá me non, rau quế hoặc xào sả ớt, cà ri là món ăn thường ngày trong bữa cơm gia đình ở quê. Cũng có thể cho thêm ốc vào nồi mắm kho cua đồng, ăn lạ miệng…
Hiện nay, những quán ăn phục vụ hải sản đặt con ốc ruộng lên vị trí khá cao bởi đây là món ăn rặt khẩu vị miền Tây Nam-bộ. Nào là ốc hấp hèm rượu, hấp  sả, hấp gừng…Đặc biệt, món ốc ướp gia vị nướng nước mắm làm mồi nhắm rượu đã ngon, mà ăn với cơm nóng thì bảo đảm căng bụng. Người nông dân hàng ngày thăm đồng bắt được ốc thường dồn vào bao cà-ròn, cột miệng treo cách giàn bếp chừng hai mét. Điều lạ là dù chẳng cho ăn gì, chúng vẫn sống hàng tháng trời, sạch và mập thịt. Các bà nột trợ giỏi giang, ưa làm món ốc hấp lá gừng. Ra chợ lựa mua vài chục con ốc bươu lớn (loại ốc ruộng, không phải ốc bươu vàng). Ngâm vào nước vo gạo một đêm cho sạch, luộc sơ rồi lể lấy phần thịt, xắt nhỏ cùng lá gừng non, củ hành, tỏi băm. Trộn đều với thịt nạc heo quết nhuyễn, tiêu bột, bột nêm, chút nước mắm ngon. Tất cả chia đều bằng với số vỏ ốc đã rửa sạch. Đặt lá gừng già ngang miệng ốc, khéo léo dùng tay ém nhân vào, lấy mày ốc đậy lên trên. Xếp ốc vào nồi hấp chừng 15 phút là chín. Cầm hai đầu lá gừng kéo nhẹ hỗn hợp thịt ốc ra, mùi thơm bốc lên phát thèm, ăn nóng…
Những ai đã từng sống vùng nông thôn, ít nhiều cũng được thưởng thức món ốc ruộng đầu mùa. Xa nhà, đêm nghe tiếng mưa rơi nặng hạt, có khi lại thở dài miên man nhớ về ngày tháng cũ…
NGUYỄN – KIM
Nguồn: thatsonchaudoc.com

Dồi Rắn-Đặc Sản Đồng Tháp

Mùa nước nổi đến, mang theo rất nhiều sản vật: phù sa bồi bổ cho những cánh đồng, bông điên điển ươm vàng và thú vị nhất là những món ngon đặc sắc từ ruộng đồng luôn để lại dư vị khó quên
Dồi rắn chắc chắn là món đặc biệt vì “hổng phải ai muốn ăn cũng được”. Đặc biệt, bởi chỉ mùa nước nổi mới có, bởi hương vị lạ lùng “hổng nghe giông giống” bất kỳ món ăn nào, bởi đó là món dành để thết đãi “chí cốt, thâm giao lắm”. Và, người thưởng thức luôn cảm nhận được cái tình “đựng” trong món ăn.
Cùng với chuột, cá, rắn ở Đồng Tháp Mười vào mùa nước nổi nhiều vô kể. Nào là rắn hổ, rắn ri voi, rắn hổ hành đến rắn bông súng, rắn nước,… nhưng để làm món dồi rắn người dân thường chọn rắn bông súng và rắn nước để chế biến.
Rắn bông súng, rắn nước được bắt dễ dàng bằng cách đặt dớn, kéo lưới, ủ mô… Loài rắn này khá “hiền lành” ít khi cắn người và không độc. Mùa này, thịt rắn mềm đến tận… xương và rất ngọt.
Công đoạn “làm thịt” rắn khá đơn giản. Rắn bắt về, thui hoặc trụng nước nóng cho tróc vảy, rút ruột, rửa sạch bụng để ráo nước, rồi lột da. Thịt rắn bằm nhuyễn, nêm chút gia vị, tiêu, bột ngọt. Phần nguyên liệu này sau đó được dùng để dồn vào phần da rắn cho đến khi căng tròn, rồi dùng dây buộc kín hai đầu hoặc có thể phân thành từng đoạn.
Dồi rắn có thể đem hấp, chiên hoặc nướng, mỗi cách chế biến sẽ đem đến cho thực khách một “trải nghiệm” thú vị. Món này ăn kèm với các loại rau sống, tía tô, xà lách,  hoặc thêm gỏi bông điên điển nữa thì rất tuyệt
Theo divivu

Cúm Núm Xào Bầu

Nhiều người dân quê gốc miền Tây hay khách du lịch sành ăn món ngon dân dã Nam Bộ, khi về vùng đất cò bay thẳng cánh này, thường tìm đến những quán đặc sản để ăn món cúm núm xào bầu – món ăn có từ thời khẩn hoang.
Cúm núm là một loại chim trời có thịt ngon hơn thịt gà nên người dân trong vùng còn gọi là gà nước. Cúm núm trống có lông màu nâu, có lốm đốm bông đen, đặc biệt, cúm núm trống có mòng đỏ thì lông đen ô. Trọng lượng cúm núm trống vào khoảng 300 – 400 gam. Cúm núm mái có màu nâu và cánh có lốm đốm bông đen. Trọng lượng cúm núm mái khoảng 200 – 300 gam. Sở dĩ dân đồng bằng gọi tên chim trời này là cúm núm vì cúm núm trống có tiếng kêu khá độc đáo “cúm, cúm cúm, cúm’… Tiếng kêu của cúm núm trống vang xa khoảng 1 km và chúng thường kêu vào lúc trời chiều hay đêm khuya.
Có nhiều cách chế biến cúm núm thành món ăn ngon vì thịt cúm núm ngon hơn thịt gà rất nhiều. Tuy nhiên, cúm núm xào bầu là món dễ chế biến và có thể là món ngon nhớ đời đối với ai đã từng ăn cúm núm.
Nguyên liệu để chế biến món này rất đơn giản: một con cúm núm trống, một khúc bầu và gia vị. Cúm núm, sau khi làm thịt xong, chặt nhỏ như thịt gà, sau đó ướp tỏi, bột ngọt, tí đường…Dùng mỡ của con cúm núm phi tỏi và xào thịt cúm núm cho săn, sau đó, cho một tô nước vào, nấu cạn nước còn một chén thì cho bầu vào xào, nêm cho vừa ăn cho ra dĩa có điểm hành, tiêu.
Cúm núm xào bầu thơm nức mũi. Món này phải ăn kèm với nước mắm Phú Quốc, ớt hiểm. Rau thơm, cải xà lách hoặc rau càng cua sẽ tăng thêm vị ngon của món ăn này. Cúm núm xào bầu là món ăn dân dã ngày xưa nhưng nay, nó trở thành đặc sản du lịch của vùng ĐBSCL.
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều cách chế biến cúm núm khác cũng rất ngon: cúm núm khìa nước dừa, cúm núm chiên, cúm núm quay lu…
Trước đây, cúm núm xuất hiện nhiều vào lúc thu hoạch lúa mùa, khoảng tháng Giêng, tháng Hai âm lịch. Dân làm ruộng, dân đi săn chim làm “bẫy cò ke” để bắt cúm núm.
Dân thích đi săn chim thì đi nhóm năm, ba người, đến những nơi cỏ hoang mọc nhiều vì cúm núm ẩn mình nơi này. Nghe tiếng chân người, cúm núm bay lên, thế là dân săn chim dùng roi sắt để phang chim. Chim bị trúng roi sắt gãy cánh té xuống. Xưa kia, bằng cách này, một lần đi phang chim, mỗi người bắt được 10 – 20 con chim đủ loại như: cò đỏ, ốc cao, quốc, cỏ nhát… trong đó, nhiều nhất vẫn là cúm núm.
Ngày nay, cúm núm xuất hiện quanh năm và những người săn bắt chim trời cũng có nhiều cách bắt chúng. Cách bắt mới nhất và khá độc đáo là dùng lưới giăng chim vào ban đêm. Lưới giăng chim là loại lưới bén, cao từ 5 – 10 m, diện tích từ 10 - 20 m2, giăng cao trên không trung. Người đi săn dùng một cái loa phát ra âm thanh tiếng kêu cúm núm trống để dụ cúm núm các nơi bay về. Vì thế, hiện nay, về miền Tây, lúc nào du khách cũng có thể thưởng thức đặc sản từ thịt cúm núm.
Văn Kim Khanh
Nguồn:THVL

Tung Lò Mò- Đặc Sản Chăm An Giang

“Tung lò mò” – Đặc sản người Chăm An GiangNgười Chăm ở An Giang sống tập trung tại các huyện An Phú, Tân Châu và Phú Tân. Là đồng bào theo đạo Hồi, người Chăm An Giang không ăn thịt heo, chỉ ăn thịt bò. Món ăn truyền thống và là bản sắc văn hóa độc đáo của họ là cà ri và cà púa.
Cà ri là món ăn ưa thích họ học theo người Ấn Độ, còn cà púa thì bắt chước người Thái Lan. Thịt cà ri xắt sao cũng được, cà púa ngoài việc cho gia vị mạnh và cay hơn cà ri, thêm đậu phộng. Sau khi làm cà púa, phần thịt vụn được người ta dùng làm “tung lò mò” (lạp xưởng bò), như một cách “tận dụng”.
Thịt bò vụn (có nhiều nơi, người ta làm bằng loại thịt bò ngon như: đùi, bắp hoặc thịt bò nạc lóc từ xương) sau khi loại bỏ hết gân và bầy nhầy, xắt nhuyễn, bằm chung với mỡ bò, trộn đều với tiêu, tỏi, bột ngọt, đường cùng một vài loại gia vị bí truyền, nhưng nhất thiết phải có cơm nguội. Ruột bò lộn bề trái, cạo, rửa nước muối, rửa sạch rồi lộn lại, phơi hơi se. Thịt trộn xong, để cho thấm, dồn vào ruột bò, thắt từng khúc dài khoảng 3 đốt tay, tròn cỡ ngón chân cái, phơi chừng 3 nắng là được. “Tung lò mò” càng để lâu (1 – 2 tháng) càng khô, càng ngon. Nhưng bí quyết để “tung lò mò” trở thành món ngon độc đáo hơn lạp xưởng còn nhờ cơm nguội lên men có vị chua.
Cũng giống như lạp xưởng, thưởng thức “tung lò mò” tuyệt nhất là nướng (kilete) hoặc chiên (chuh), nhưng phải còn nóng mới không có mùi tanh của mỡ bò. “Tung lò mò” nướng chín tới đâu, ăn tới đó. Ngồi cạnh bếp than hồng, nhìn từng khúc “tung lò mò” chín đỏ mỡ nhểu xèo xèo trong đám khói tỏa mùi thơm ngào ngạt, đã thấy thèm. Gắp cắn một miếng, vị ngọt bùi của thịt và mỡ bò, vị chua chua của cơm nguội lên men hòa cùng gia vị cay nồng xông vào khẩu cái, lại nghe vị ngọt giòn thơm của rau sống, cần ống, vị chua của khế, vị chát của chuối sống tan thấm trên mặt lưỡi. Nhưng tuyệt vời hơn nếu như ta cùng vài ba người bạn ngồi nhâm nhi “tung lò mò” với chút rượu trong một buổi chiều mưa lạnh thì…!
Theo Báo Cần Thơ

Kẹo Dừa Bến Tre

Bến Tre nước ngọt sông dài 
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh 
Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo 
Gái Mỏ Cày vừa khéo (lại) vừa ngoan.
Kẹo dừa Bến Tre vừa là một đặc sản ẩm thực, vừa là một nghề thủ công truyền thống mang đậm văn hóa xứ sở. Đất nước ta có nhiều vùng trồng dừa nhưng Bến Tre chính là nơi ra đời và phát triển nghệ thuật chế biến kẹo dừa. Các nghệ nhân ẩm thực Bến Tre đã không ngừng kế thừa nghệ thuật làm kẹo dân gian này để nâng lên thành một ngành hàng chủ lực đem lại lợi ích kinh tế và quảng bá văn hóa ẩm thực Bến Tre trong và ngoài nước.
Ngày xưa người Bến Tre làm kẹo dừa để ăn trong gia đình hay để biếu bè bạn, người thân trong những dịp lễ tết. Sau đó, nghệ thuật làm kẹo dừa đã không ngừng được cải tiến và đã trở thành một sản phẩm truyền thống đặc biệt của Bến Tre.
Kẹo dừa Bến Tre có nguồn gốc từ huyện Mỏ Cày. Theo các tư liệu sưu tầm được thì người đầu tiên làm ra kẹo là bà Nguyễn Thị Ngọc, sinh năm 1914, cư ngụ tại khu phố 1, thị trấn Mỏ Cày. Nguyên liệu làm kẹo dừa gồm: nước cốt dừa, mạch nha, đường (trước kia người ta dùng đường thùng nhưng ngày nay dùng đường cát). Mạch nha được chắt lọc từ chất đường của hạt nếp khi được ủ cho lên mầm.
Muốn làm kẹo ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Thóc nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to chín đều. Để nẩy mầm thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu lấy mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề điêu luyện. Dừa khô lựa trái “rám vàng” mới vừa hái xuống. Vì trái dừa mới bắt đầu khô này có hương vị đặc trưng, nước cốt có độ ngọt thanh. Đường nấu kẹo phải chọn loại đường mới, có màu vàng tươi.
Xưa kia người ta cho tất cả nguyên liệu vào bể chứa trộn đều sau đó đun sôi rồi cho vào thạp ủ (chiều làm kẹo, sáng nấu bột). Trong sản xuất đại trà hiện nay, sau khi pha chế nguyên liệu xong người ta cho vào chảo, đun sôi, sử dụng máy quay được lắp sẵn trên chảo và quay cho đến khi nào kẹo “tới” thì đổ ra mâm đã bôi dầu dừa để chống dính. Tiếp theo, dùng vải nhựa có bôi dầu dừa để ép kẹo vào khuôn, chờ nguội rồi cắt thành viên, sau đó gói từng viên kẹo riêng rồi cho vào bao bì tùy trọng lượng đặt hàng.
Ngày nay, người Bến Tre đã cải tiến làm thêm nhiều loại kẹo dừa có kết hợp với các nguyên liệu khác làm cho kẹo dừa Bến Tre ngày càng phong phú. Người ta đã cho thêm hương vị sầu riêng, đậu phộng và thậm chí cả ca cao vào kẹo. Đây là hiện tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật ẩm thực rất sáng tạo để đáp ứng sở thích của nhiều đối tượng khách hàng, để có thể mở rộng thị trường. Du khách đến Bến Tre thường mua kẹo về làm quà cho gia đình, người thân, bè bạn. Có thể nói kẹo dừa khá gắn bó với cuộc hành trình khám phá văn hóa, ẩm thực, du lịch ở Bến Tre.
Hiện tại Bến Tre có 151 cơ sở sản xuất kẹo dừa, gồm 15 công ty, 9 doanh nghiệp tư nhân, số còn lại là hộ cá thể, có khả năng sản xuất trên 30.000 tấn/năm. Cơ sở sản xuất tập trung chủ yếu trên địa bàn thị xã Bến Tre, huyện Mỏ Cày và Châu Thành, giải quyết việc làm cho trên một vạn lao động nghèo với thu nhập từ 700.000 – 1.000.000 đồng/tháng.
Từ nguồn nguyên liệu dừa rất phong phú của Bến Tre, cộng thêm tài khéo léo của người chế biến, người xứ dừa đã biết tăng thêm giá trị văn hóa, giá trị của lao động thủ công truyền thống vào sản phẩm để làm cho trái dừa không chỉ là nguồn nguyên liệu thô mà nó đã được nâng giá trị lên nhiều lần. Ở đây yếu tố văn hóa trong sản phẩm thủ công đã làm nên giá trị kinh tế, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân xứ dừa. Mặt khác, chính nhờ có sự phát triển kinh tế như vậy mà nghệ thuật thủ công truyền thống lại được trân trọng, gìn giữ và không ngừng phát triển.
Điều đáng mừng là các lò kẹo thủ công truyền thống danh tiếng như Bến Tre, Yến Hương, Thanh Long, Thiên Long, Tuyết Mai… đã không ngần ngại đầu tư bạc tỷ để đổi mới công nghệ sản xuất kẹo truyền thống, tạo nên nhiều mẫu mã, kiểu dáng ngày càng hấp dẫn khách hàng. Theo truyền thống sản xuất xưa nay các cơ sở sản xuất kẹo dừa luôn xem trọng chất lượng, chữ tín, không sử dụng chất bảo quản, đường hóa học và các chất cấm khác nhằm khẳng định thương hiệu của mình. Nhờ vậy kẹo dừa Bến Tre đã có mặt ở các thị trường trong cả nước và còn xuất khẩu sang nhiều quốc gia châu Á, châu Âu và châu Mỹ.
Thu Thảo (Bảo Tàng Bến Tre)
Nguồn:www.bentre.gov.vn

Nem Lai Vung

Nếu Sa Đéc có làng hoa Sa Đéc thì Lai Vung cũng nổi tiếng khắp vùng đồng bằng Nam Bộ với nghề làm nem truyền thống. Nằm ở phía Bắc sông Hậu, làng nghề làm nem ở Lai Vung được hình thành hơn 60 năm nay và là một trong những làng nghể lâu đời nhất ở địa phương, nằm trong số gần 30 làng nghề được tỉnh Đồng Tháp công nhận.
Đặc sản nem Lai Vung từ lâu đã nổi tiếng với hương vị ngon đặc biệt. Thong thả mở từng lớp lá chuối, chắc chắn bạn không thể cầm lòng trước miếng nem tươi đỏ hồng điểm xuyết những hạt tiêu đen, vài lát tỏi trắng mỏng. Nem chua khi ăn có vị ngọt của thịt và vị chua của nem, còn nem nướng cũng là loại nem chua nhưng dùng khi nem chưa lên men, nưóng trên vỉ than đỏ hồng, ăn kèm với bún, rau thơm, nước chấm v.v.
Nghề làm nem cũng lắm công phu, làm ra một chiếc nem phải trải qua rất nhiều công đoạn. Thịt làm nem là thịt heo đưa vào cối đá quết nhuyễn, da heo được lạng nhỏ thành từng miếng. Trộn lẫn các thứ thịt, bì, tiêu, ớt, lót kèm lá vông xong nguời ta gói lại bằng lá chuối tươi để từ 3 đến 4 ngày cho lên men ở nhiệt độ khoảng 27-300C. Nem làm ngon và đúng cách phải đủ 8 phần thịt, 2 phần bì, thịt lợn phải tươi, gia vị phải cân đối, gói thật đều tay. Vì vậy mà ở Lai Vung có câu vè: “Từng gói, từng gói nếu ai không giỏi thì gói không đều, từng lá nhỏ tươi bao tròn viên thịt, để lá ít thì nem lâu chua, để thịt vừa vừa thì nem lâu chín…”
Tương truyền rằng, những ông tổ của nghề làm nem lúc đầu làm ra món ăn này  chủ yếu để cúng kiến, giỗ tiệc, lễ tết. Sau này thấy ăn ngon miệng, dễ làm nên nhiều nguời Lai Vung quyết định học cách làm nem để bán. Ban đầu chỉ là bán nhỏ, lẻ, rồi sau đó truyền miệng cho nhau nên việc buôn bán nem cũng phát triển theo những chuyến xe đò, chuyến phà miền Tây và tới thập niên 1980-1990 đã trở thành mặt hàng bình dân được ưa chuộng. Đến năm 2000, Lai Vung đã có hàng chục lò nem tên tuổi như Út Thẳng, Tư Minh, Năm Thơ… Huyện Lai Vung cũng đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá cho làng nghề mình với tên gọi “nem Lai Vung”, mỗi ngày sản xuất ra hơn 300 ngàn chiếc nem lớn nhỏ, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động…
Một khi đã tới địa phận Đồng Tháp hẳn bạn không thể quên mua vài chục nem Lai Vung về làm quà cho bạn bè và nguời thân. Mùi vị đậm đà của chiếc nem Lai Vung chắc chắn sẽ làm khách thập phương lưu luyến mãi khi nhớ về một Đồng Tháp hiền hòa.
Nguồn dongthap.gov.vn