Showing posts with label Hương quê. Show all posts
Showing posts with label Hương quê. Show all posts

Dòng dọc, một loài chim gắn liền tuổi thơ!

Thuở nhỏ còn ở làng, cứ mỗi lần theo cha ra đồng là tôi lại thích tìm đến những nơi bưng biền, ở đó có nhiều lau sậy để tìm tổ chim dòng dọc (dồng dộc) lấy trứng.




Dòng dọc là loại chim nhỏ, có hình dáng tương tự như chim sẻ, bộ lông mượt mà, màu sắc hài hòa, đặc biệt là nhanh nhẹn, liếng thoắng và có tiếng kêu ríu rít, rộn ràng khiến trẻ con chúng tôi ngày đó mỗi lần nghe đến là lòng trở nên nôn nao, vui sướng lạ thường. Đặc biệt, chim dòng dọc thường sống thành đàn đông đúc. Khi làm tổ chúng chọn những nơi yên tĩnh và chung sống hòa bình bên nhau như "người hàng xóm".
Chim dòng dọc trước kia xuất hiện rất nhiều ở các vùng nông thôn miền Nam nước ta. Chúng thường làm tổ phía dưới các tàu dừa, trên ngọn cây, nhất là những cây sao, hàng tràm. Ngoài ra, dòng dọc cũng thích làm tổ ở những nơi thấp như ngọn đế, sậy giữa đồng. Ngày nay, môi trường thiên nhiên không còn "cưu mang" cho loài chim bé nhỏ này nữa nên chúng đã lần lượt kéo nhau về rừng, những nơi hoang vắng hơn để tiếp tục làm tổ đẻ trứng, nối dõi giống dòng.
Trong các loài chim muông, có thể nói dòng dọc là một loài chim làm tổ khéo nhất, tỉ mỉ và hoàn mỹ chưa từng có. Chính vì vậy mà nhiều người đã phong tặng cho loài chim này là “bậc thầy kiến trúc”, một loài chim xây tổ tài hoa nhất. Nhìn tổ chim dòng dọc treo lủng lẳng trên những cành cây cao chót vót chẳng khác nào một công trình kiến trúc mà ngay cả con người cũng không ngờ tới. Dù tổ treo trên cao hay dưới thấp và dù cho mưa gió cỡ nào, tổ chim dòng dọc vẫn bám chắc trên cành, vững như một bức thành trì kiên cố.


Chim mái có một “căn nhà” riêng độc đáo, không những bảo đảm che nắng che mưa mà còn có giá trị thẩm mỹ tuyệt vời. Từ xa nhìn lên nó giống như một cái túi hình chuông, bụng phình ra, nối liền với một cái ống tròn giống như tay áo dài cỡ 30 – 50 cm, miệng trút xuống phía dưới, gọi là cửa ra vào. Chỗ phình ra là một cái túi để cho chim đẻ, ấp trứng và nuôi con một cách an toàn.
Tổ chim trống đơn sơ hơn, giống như một cái chuông úp ngược. Sau khi tìm được bạn tình rủ về chung sống, con mái “có bầu”, con trống mới bắt đầu xây một “tổ ấm” kiên cố hơn, có phòng đẻ, ấp trứng đàng hoàng xinh xắn hơn gấp trăm lần. Đó chính là tổ chim mái. Thế nhưng, chuyện của loài chim cũng thật lạ. Chúng đã bỏ bao công sức để xây những chiếc tổ cầu kỳ, hoành tráng, vậy mà khi đàn chim non vừa đủ lông đủ cánh thì cả bố mẹ và con cái đều bỏ nhà ra đi, bỏ lại căn nhà trống trải. Mùa sau lại có đàn chim khác bay đến xây tổ mới.
Hồi đó, muốn lấy trứng chim dòng dọc tôi thường thọc tay vào tổ hoặc gở nguyên ổ chim xuống trút lấy trứng. Lũ trẻ lấy trứng chim là vì ham vui, khoái khám phá. Có đứa sau khi hốt cả chén mang về luộc ăn, nhưng cũng có đứa bạo dạn cho trứng sống vào miệng húp cả lòng đỏ và lòng trắng. Chúng bảo ăn như vậy mới bổ!
Ngày nay, mỗi lần nhìn thấy tổ chim dòng dọc là trong tôi lại trào dâng một cảm xúc dạt dào về thời tuổi thơ khốn khó. Trong ký ức của tôi, cứ mỗi lần đi lấy trứng chim là mỗi lần bị ong rược chạy té nhào vì loài chim này thường hay làm tổ bên cạnh những tổ ong mật, ong ruồi nên ai sơ ý nhào vô hốt trứng là sớm muộn gì cũng bị ong đuổi đánh.

Mùa chụp cá đìa quê tôi

Vùng quê U Minh, Cà Mau cứ đầu mùa mưa khoảng tháng 4, tháng 5 (âm lịch) cá nước ngọt từ những lung, bàu lũ lượt kéo nhau lên đồng tìm kiếm thức ăn và sinh đẻ bảo tồn nòi giống.


Hồi xa xưa, vùng quê cá nhiều vô số kể, đây là nơi trú ẩn, sinh sôi nhiều loại cá đồng như: Trê, lóc, cá sặc rằn, sặc bướm, thát lát, rắn, rùa, lươn, cua đinh. Cá là món ăn rất gần gũi với bà con, có nhiều người ăn cá từ khi mở mắt chào đời cho đến ngày răng long tóc bạc mà vẫn không biết chán, biết chê. Trước đây, bà con bắt cá bằng những dụng cụ thô sơ như: Tát đìa bằng thúng, bằng mo cau cột thành cái gàu, hoặc thùng thiếc rồi đến gàu sòng, gàu dai… một thời gian nhờ máy nổ hút nước. Nhưng bắt cá chụp đìa bằng cách “ken lưới” là tiện lợi, khẩu đìa ngắn hay dài đều bắt được, con cá không đuối sức và hầu như bắt trọn ổ.
Bà con ở vùng quê rất có kinh nghiệm xem, tìm hiểu đìa cá nhiều hay ít. Xem bằng nhiều cách: Lắng nghe tiếng quẫy đuôi, tiếng ngớp, tiếng ục, tiếng chép, tiếng táp mồi. Chắc hơn nữa, lặn xuống hươ tay có đụng cá hay không? Xem cá xắn để dấu vào ở hai mé đìa nhiều hay ít, cá làm hang nhiều không?...
Sau khi xem xong khẩu đìa của mình, gia chủ mới đi mướn lưới chụp, lưới dài hay ngắn đều có đủ kích cỡ. Trước tiên, dùng “phảng” phát cỏ dại, rau muống, lục bình, lấy “cù nèo” dọn sạch rau cỏ, lục bình trong đìa kéo sạch lên bờ, chờ nước lắng là bắt đầu ken lưới.
Chụp đìa là nếp sống quen thuộc của bà con quê tôi, các địa phương khác xem câu chuyện chụp cá đìa như huyền thoại. May thay bà con ta vẫn tiếp tục nuôi cá đồng; vẫn tiếp tục sống chung với cá, vẫn hy vọng vùng đất quê tôi mãi là một thế giới cá đồng.